Xin chào ! Nếu đây là lần đầu tiên bạn đến với diễn đàn, xin vui lòng danh ra một phút bấm vào đây để đăng kí và tham gia thảo luận cùng VnPro.
X
 
  • Filter
  • Time
  • Show
Clear All
new posts

  • Rất nhiều doanh nghiệp nghĩ rằng một khi đã 'lên cloud', bảo mật gần như là chuyện của nhà cung cấp?

    Rất nhiều doanh nghiệp nghĩ rằng một khi đã "lên cloud", bảo mật và vận hành gần như là chuyện của nhà cung cấp lo hết. Sự thật là ranh giới trách nhiệm đó dịch chuyển tùy theo mô hình dịch vụ bạn chọn - và không hiểu rõ ranh giới này là nguyên nhân của không ít sự cố rò rỉ dữ liệu tưởng như vô lý.

    Trước khi nói tới trách nhiệm, cần phân biệt cloud được triển khai theo mô hình nào. Public cloud là tài nguyên dùng chung, do bên thứ ba sở hữu và vận hành, trả phí theo mức sử dụng giống như hóa đơn điện nước. Private cloud dành riêng cho một tổ chức duy nhất, có thể đặt tại chỗ hoặc thuê chỗ ở data center của nhà cung cấp, đổi lại là toàn quyền kiểm soát và tùy biến. Hybrid cloud kết hợp cả hai: dữ liệu nhạy cảm giữ trong private, còn khối lượng công việc cần mở rộng đột biến thì đẩy ra public - rất hợp với các công ty startup muốn tối ưu chi phí mà vẫn giữ được phần lõi an toàn. Community cloud là biến thể ít gặp hơn, nơi vài tổ chức có chung tiêu chuẩn bảo mật hoặc quy trình (thường thấy ở các cơ quan nhà nước) chia sẻ chung một hạ tầng multi-tenant thay vì mỗi bên tự dựng riêng.

    Giờ mới đến phần hay bị hiểu lầm nhất: ranh giới trách nhiệm giữa người dùng và nhà cung cấp thay đổi hoàn toàn tùy theo mô hình dịch vụ.

    Với hạ tầng chạy tại chỗ theo kiểu truyền thống, gần như mọi thứ - từ ứng dụng, dữ liệu, runtime, middleware, hệ điều hành, ảo hóa, mạng, lưu trữ, đến chính máy chủ vật lý - đều do đội IT nội bộ tự quản lý.

    IaaS bắt đầu chuyển giao phần cứng ra cho nhà cung cấp: server, lưu trữ, mạng và tầng ảo hóa giờ là việc của họ, còn hệ điều hành, middleware, runtime, ứng dụng và dữ liệu vẫn là trách nhiệm của bạn. Đây là lý do IaaS linh hoạt gần như tuyệt đối - bạn có thể cài bất kỳ hệ điều hành hay phần mềm nào lên trên - nhưng cũng đồng nghĩa nếu hệ điều hành đó thiếu bản vá, lỗi hoàn toàn thuộc về bạn chứ không phải nhà cung cấp.

    PaaS đẩy ranh giới lên thêm một bậc: nhà cung cấp lo luôn cả hệ điều hành, middleware và runtime, bạn chỉ còn việc viết code và quản lý dữ liệu ứng dụng của chính mình. Tốc độ phát triển nhanh hơn hẳn, nhưng đổi lại bạn bị khóa khá chặt vào ngôn ngữ lập trình và công cụ mà nền tảng đó hỗ trợ.

    SaaS thì gần như giao hết, trừ đúng một thứ bạn không bao giờ được nhường: dữ liệu. Outlook, Gmail, Dropbox đều là SaaS - nhà cung cấp lo từ hạ tầng đến chính ứng dụng, bạn chỉ việc đăng nhập và dùng, nhưng nội dung, tài liệu, thông tin khách hàng nằm trong đó vẫn luôn là trách nhiệm pháp lý và bảo mật của bạn, không phải của nhà cung cấp.

    Một biến thể ít được nhắc tới hơn là DaaS - toàn bộ desktop ảo hóa được xử lý trên cloud, máy trạm người dùng chỉ còn là thiết bị hiển thị (thin client), dữ liệu không bao giờ thực sự nằm trên máy đầu cuối. Cách này giúp việc quản lý hàng loạt máy trạm và bảo mật dữ liệu tập trung dễ hơn nhiều so với việc rải dữ liệu ra hàng trăm laptop cá nhân.

    Kết nối lên cloud cũng có mấy lựa chọn khác biệt rõ về mức độ an toàn và tốc độ. VPN mã hóa một đường hầm chạy đè lên Internet công cộng, đủ an toàn cho phần lớn nhu cầu truy cập từ xa, kể cả qua Wi-Fi công cộng. Private-direct connection thì bỏ hẳn Internet công cộng ra khỏi phương trình, kéo một đường cáp vật lý chuyên dụng thẳng tới nhà cung cấp cloud, cho tốc độ và độ ổn định cao hơn hẳn nhưng chi phí cũng cao tương ứng, thường chỉ hợp với các luồng dữ liệu doanh nghiệp cực lớn.

    Multitenancy là khái niệm nền cho tất cả các mô hình cloud dùng chung: nhiều khách hàng chạy trên cùng phần cứng vật lý, giống như một tòa chung cư dùng chung điện nước, thang máy, nhưng mỗi căn hộ vẫn có khóa riêng và không ai xem được đồ đạc của ai. Vấn đề là nếu hạ tầng multitenancy bị cấu hình sai, ranh giới cách ly đó có thể bị xuyên thủng - đây cũng là lý do IaaS luôn liệt kê rủi ro chia sẻ tài nguyên vật lý là một điểm cần cân nhắc.

    Vài thuật ngữ hay xuất hiện khi vận hành cloud ở quy mô lớn: elasticity là khả năng hệ thống tự phình to hoặc co lại theo đúng lưu lượng thực tế, tránh vừa lãng phí lúc vắng khách vừa nghẽn lúc cao điểm. Infrastructure as Code biến việc dựng hạ tầng thành các file cấu hình có thể đọc, review, và chạy lại y hệt mỗi lần, thay vì click chuột thủ công dễ sai sót. Automation là tự động hóa một tác vụ đơn lẻ, còn orchestration là ghép nhiều automation lại thành một quy trình hoàn chỉnh - automation lo từng bước, orchestration lo cả dây chuyền.

    Chọn sai mô hình triển khai hay mô hình dịch vụ không chỉ là vấn đề chi phí, mà còn quyết định luôn ai là người chịu trách nhiệm khi có sự cố xảy ra - và đó là câu hỏi nên trả lời rõ ràng trước khi ký hợp đồng, không phải sau khi dữ liệu đã rò rỉ.

    Tổ chức bạn đang dùng mô hình cloud nào - IaaS để tự chủ động, hay SaaS cho gọn nhẹ? Chia sẻ để mọi người cùng tham khảo nhé.

    Click image for larger version

Name:	cloud computing.jpg
Views:	3
Size:	243.4 KB
ID:	444461
Working...
X